Họ đào việt nam

Cộng đồng họ đào

Họ Đào Hà Nội

Họ Đào ở Hồ Chí Minh

E learning

Giải pháp đào tạo trực tuyến

Học trực tuyến

Ôn thi đại học

Học nghiệp vụ ngân hàng

Thi tiếng anh

Tiếng anh ngân hàng tài chính

tiếng anh trực tuyến

khóa học giám đốc kinh doanh

Khóa học khởi nghiệp

Trường đào tạo cán bộ Agribank

Ngân hàng Agribank

Ứng dụng công nghệ

Dòng họ Đào (Đào Bá Lệ) xóm Nam, thôn Lưu Khê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

Từ đường họ Đào được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận giá trị và xếp hạng cấp Quốc gia theo Quyết định số 51 QĐ/BVHTT, ngày 27/12/2001.

Thuỷ tổ họ Đào thôn Lưu Khê, xã Liên Hoà (TX Quảng Yên) là cụ Đào Bá Lệ, một trong các Thuỷ tổ Tiên Công có công lao lấn biển khai hoang, mở đất lập làng của khu vực làng đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng xưa. Nhà thờ họ Đào Tiên Công thôn Lưu Khê đã được Bộ Văn hoá thông tin cấp Bằng di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia. Trước đây, thời vua Minh Mệnh và vua Khải Định triều Nguyễn cũng đã cấp sắc phong cho họ Đỗ, họ Đào, và sức cho dân Lương Quy (nay là thôn Lưu Khê) tôn thờ cung phụng.

Vào thời Lê Thánh Tông một số dòng họ Vũ, Nguyễn, Hoàng, Đào... từ Thăng Long nghe chỉ dụ khuyến nông của Lê Thánh Tông, họ đã từ Thăng Long (Ba Đình, Kim Liên, Giáp Nhất, Giáp Nhị...) đi đến vùng biển Yên Hưng quai đê ngăn mặn để trồng cấy và đánh cá. Khi họ đặt chân đến đây không hề có nước ngọt. Ban đêm đang lúc đói khát họ nghe thấy tiếng ếch kêu bèn đoán biết nơi ấy có nước ngọt. Họ lần mò đến nơi, quả nơi ấy có cái giếng khá rộng, chứa nhiều nước ngọt. Nhờ nước ngọt của giếng mà các cụ Tiên Công đã sống và trụ lại trên đất này để khai canh mở đất. Giếng ấy sau gọi là Oa Tỉnh, hiện nay vẫn còn

Nhà thờ có câu đối:

Khai canh công thần lưu hậu thế
Từ đường Đào tộc sáng tiền nhân

Tạm dịch:

Mở đất khai hoang công lao tổ thần lưu hậu thế
Nhà thờ họ Đào khai sáng xây dựng tự người xưa

Dòng họ Đào (Đào Bá Lệ) xóm Nam, thôn Lưu Khuê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

Tấm bia tại cổng nhà thờ họ Đào thôn Lưu Khê

Vào đầu thế kỷ 15, sau cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua. Trong thời gian cầm quyền, ông đã ra sức chỉnh trang triều chính, với tư tưởng xây dựng đất nước thành quốc gia Đại Việt hùng mạnh. Sau vua Lê Lợi mất, Lê Thái Tông lên ngôi, lấy niên hiệu là Thiệu Bình. Ông tiếp tục thực hiện chính sách chú trọng phát triển nông nghiệp, khuyến khích nhân dân khai hoang, mở rộng bờ cõi bằng các chính sách điền địa, tăng cường canh tác, lập làng định cư xung quanh kinh thành và nhiều nơi. Dân chúng có nhiều thuận lợi phát triển kinh tế để sinh sống an bình. Lúc đó có 17 vị tại phường Kim Liên, phủ Hoài Đức phía nam Thăng Long thành  tập trung con cháu xuôi thuyền xuống cửa sông Bạch Đằng để quai đê lấn biển, lập ấp tại phía nam quận An Bang, lập nên phường Phong Lưu, sau thành xã Phong Lưu. Thời gian trước đó, về phía Đông Nam xã Phong Lưu có hai ông Hoàng Nông, Hoàng Nênh lập nên thôn Trung Bản, nay thuộc xã Liên Hoà. 2 ông Đỗ Độ và Đào Bá Lệ, lập nên xã Lương Quy, nay gọi thôn Lưu Khê, xã Liên Hoà và hai ông Hoàng Kim Bảng, Đồng Đức Hấn lập nên xã Vị Dương, xã Liên Vị. Bốn ông Đỗ Độ, Đào Bá Lệ, Đồng Đức Hấn và Hoàng Kim Bảng đều thuộc người Hà Nam, tỉnh Nam Định.

Bấy giờ thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, đời sống muôn vàn khó khăn, giặc ngoại xâm, giặc cỏ hoành hành, các bậc Tiên Công đã đoàn kết trụ vững bên nhau trên các bãi triều, rừng ngập mặn để giữ gìn bờ cõi. Công lao của các cụ để lại cho con cháu mai sau thật là to lớn. Các đời sau đã lập miếu thờ, nay gọi là từ đường các dòng họ và lập chung một miếu Tiên Công tại thôn Cẩm La, nay là xã Cẩm La thờ 17 vị Tiên Công. Hai cụ Hoàng Nông, Hoàng Nênh được thờ tại miếu Nhị vị Tiên Công thôn Trung Bản, xã Liên Hoà. Cụ Đồng Đức Hấn, Hoàng Kim Bảng thờ tại đình Vị Dương xã Liên Vị. Cụ Đỗ Độ, Đào Bá Lệ thì thờ tại đình Lưu Khê. Trong bia đá miếu Tứ xã Cẩm La ghi về thuỷ tổ Đỗ Độ và Đào Bá Lệ như sau:
"Giao cho 2 cụ Đỗ Độ, Đào Bá Lệ xã Lương Quy, số ruộng = 1.087 mẫu, 3 sào, 3 thước, dân số 142 người, đê dài 629 trượng 4 thước...".

Ngày lễ hội của Từ đường họ Đào (Đào Bá Lệ) cũng nằm trong không khí chung của cả vùng đảo Hà Nam. Ngày 5 tháng Giêng Âm lịch đầu năm, diễn ra lễ rước mừng các cụ thượng thọ trong dòng tộc. Trong các gia đình vinh dự có người thọ 80, 90, 100 tuổi trở lên tổ chức lễ thượng thọ tại nhà. Con cháu trong dòng họ, làng xã đến làm lễ sống hoặc nói lời chúc thọ các cụ. Sau đó, các cụ thượng được rước đến Từ đường để làm lễ cáo yết tổ tiên. Ngày 5 tháng giêng âm lịch là ngày lễ đầu năm, mỗi gia đình tuỳ theo điều kiện đều chuẩn bị một mâm lễ chay hoặc mặm, đem đến từ đường dâng lên tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho gia đình, dòng họ được mạnh khỏe bình an. Ngày 2 tháng 12 âm lịch, dịp cuối năm, là ngày chạp tổ của dòng họ cũng như cả vùng đất Hà Nam. Con cháu xa gần sửa soạn sắm lễ dâng cúng tổ tiên, báo cáo những việc đã làm được trong năm vừa qua. Mọi người cùng nhau vui chơi, ăn uống. Những ngày lễ này là dịp tụ hội của cả họ, nhắc nhở con cháu hướng về cội nguồn, kính trọng người già, nêu cao tinh thần đoàn kết trong cộng đồng cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.

Một số hình hảnh nghi lễ dân hương, tế tổ nhằm ngày 5 tháng Giêng năm Bính Thân tại nhà thờ

Dòng họ Đào (Đào Bá Lệ) xóm Nam, thôn Lưu Khuê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

Đội tế nữ Dâng rượu

Dòng họ Đào (Đào Bá Lệ) xóm Nam, thôn Lưu Khuê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

Đội tế nam Dâng rượu

Dòng họ Đào (Đào Bá Lệ) xóm Nam, thôn Lưu Khuê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

Kết thúc lễ Dâng hương, tế tổ con cháu trong họ quây quần thụ lộc

Theo tư liệu hồ sơ nhà thờ Tiên công Đào Bá Lệ thì cụ Đào Bá Lệ cùng cụ Đỗ Độ có quê Phủ Lý - Hà Nam, trong đó ghi chép các cụ di chuyển đến vùng Hà Nam sau năm 1432 khi đó Lê Thái Tổ lên ngôi và chưa thôi đổi địa danh, chia lại địa bàn hành chính. Vì vậy con cháu chiếu theo địa bàn hành chính và thời Trần cuối thế kỷ XIV

Sơ lược về địa danh vào thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV

Đối chiếu 1:

Sang thế kỷ 14, có sự mở rộng đất đai về phía nam (Chiêm Thành), đã hình thành và có sự điều chỉnh các đơn vị hành chính. Kinh đô ban đầu kế tục nhà Lý, đóng tại Thăng Long. Từ năm 1397, quyền thần Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông dời đô vào trấn Thanh Đô. Di tích hai kinh thành thời Trần là Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) và Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đều được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới[3][4].

Cuối thời Trần, cả nước có 24 đơn vị hành chính như sau[5][6]:

Lộ Đông Đô

Tức vùng Hà NộiHà Nam và một phần Vĩnh PhúcBắc Ninh hiện nay, gồm có[7]:

  • Phủ Đông Đô: trực tiếp quản lý huyện Từ Liêm và một huyện không rõ tên, sang thời thuộc Minh gọi là huyện Đông Quan.
  • Châu Quốc Oai: gồm 4 huyện Sơn Minh (Ứng Hòa hiện nay), Thanh Oai (Thanh Oai hiện nay), Ứng Thiên (Chương Mỹ và một phần Ứng Hòa hiện nay), Đại Đường (Mỹ Đức hiện nay)
  • Châu Thượng Phúc: gồm 3 huyện Thượng Phúc (Thường Tín hiện nay), Phù Lưu (Phú Xuyên hiện nay), Long Đàm (Thanh Trì hiện nay)
  • Châu Tam Đái gồm 6 huyện Phù Long (gần huyện Vĩnh Tường hiện nay), Yên Lãng (Mê Linh hiện nay), Phù Ninh (Phù Ninh hiện nay), Yên Lạc (Yên Lạc hiện nay), Lập Thạch (Lập Thạch hiện nay), Nguyên Lang (một phần Phù Ninh hiện nay)
  • Châu Từ Liêm (phía tây Hà Nội, phần hữu ngạn sông Hồng) gồm 2 huyện Đan Phượng (Đan Phượng hiện nay), Thạch Thất (Thạch Thất hiện nay)
  • Châu Lý Nhân gồm 6 huyện: Thanh Liêm (Thanh Liêm hiện nay), Bình Lục (Bình Lục hiện nay), Cổ Bảng (Kim Bảng hiện nay), Cổ Lễ (một phần Lý Nhân), Lý Nhân (Lý Nhân hiện nay), Cổ Giả (một phần Lý Nhân hiện nay)

Đối chiếu 2:

Từ năm 1397 (thời Trần Phế Đế) thành Thăng Long được gọi là Đông Đô để phân biệt với kinh đô mới ở Thanh Hóa (gọi là Tây Đô). Tên gọi này tồn tại tới năm 1430 (thời Lê Thái Tổ). Thời thuộc Minh còn gọi là Đông Quan.

Đối chiếu 3:

Theo cuốn Bản Tổng An Đông Phú Ý Phụng Cung được ghi chép bởi cụ Đào Quang Kế vào năm Cảnh Hưng thời Lê Trung Hưng với phần nội dung không còn rõ nét và bị mất nhiều chữ, phần bìa thì ghi chép về thôn An Đông đối chiếu địa danh nay và xưa thì có tồn tại thôn An Đông, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Vì vậy vào thời Lê Sơ 1432 thì cụ Đào Bá Lệ cũng nằm trong nhóm các cụ Tiên Công từ Thăng Long xuống Đảo Hà Nam

Cộng đồng Họ Đào nơi quy tụ của mọi người con họ Đào

Hãy tham gia kết nối với các hoạt động của cộng đồng Họ Đào ngay từ bây giờ



Bình luận

Chia sẻ mạng xã hội

Tags